Danh sách bài viết

Múa rối nước - nghệ thuật truyền thống độc đáo

Nghệ thuật và Âm nhạc

Múa rối nước là môn nghệ thuật đặc sắc ra đời từ nền văn hóa lúa nước. Từ một nghệ thuật mang yếu tố dân gian, múa rối nước đã trở thành một nghệ thuật truyền thống. Và cùng với tuồng, chèo, múa rối nước được coi là môn nghệ thuật có vị trí cao trong nghệ thuật sân khấu dân tộc. Nói đến múa rối thì hầu như dân tộc nào cũng có, nhưng múa rối nước thì chỉ có duy nhất ở Việt Nam. Tinh hoa của nghệ thuật múa rối nước ngày càng nhận được nhiều sự ngưỡng mộ của bạn bè quốc tế, trở thành một sản phẩm nghệ thuật độc đáo của Việt Nam.

Hơi nhạc Huế so với hơi nhạc tài tử

Nghệ thuật và Âm nhạc

Xứ Huế là mảnh đất của Thơ ca, là không gian của Nhạc. Đặc điểm của Huế là sự dung hợp tự nhiên giữa dân dã với đô thị, cung đình; là ranh giới khó phân định giữa bác học với dân gian, giữa ngoại ô và nội thị...

Văn hóa Óc eo – Phù Nam: Nền văn hóa cổ vùng đất Nam bộ xưa

Nghệ thuật và Âm nhạc

Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa cổ hình thành và phát triển trên cơ tầng bản địa trong khoảng 10 thế kỷ đầu công nguyên ở khu vực Nam bộ. Nền văn hóa được phát hiện lần đầu tiên ở Óc Eo (Vọng Thê, An Giang), sau đó được mở rộng ra phạm vi các tỉnh miền Nam như Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ… Qua những cuộc khai quật, các nhà khảo cổ đã thu được hàng vạn hiện vật phong phú, đa dạng vừa mang tính bản địa, vừa có tính giao lưu kinh tế với các trung tâm lớn thời bấy giờ như Trung Quốc, Ấn Độ, La Mã, Ba Tư…

Múa rối nước - một sáng tạo độc đáo của người Việt

Nghệ thuật và Âm nhạc

Múa rối nước là loại hình nghệ thuật đặc sắc của văn hóa lúa nước.

Âm nhạc trong múa Khơ me Nam Bộ

Nghệ thuật và Âm nhạc

Âm nhạc và múa là những loại hình nghệ thuật ra đời sớm nhất, đã tồn tại và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử văn hóa loài người. Âm nhạc và múa luôn gắn bó mật thiết với nhau, múa luôn đòi hỏi phải có nhạc

Chèo Rối nước – bộ môn nghệ thuật ấn tượng, độc đáo

Nghệ thuật và Âm nhạc

Chèo rối nước là một trong những môn nghệ thuật dân gian độc đáo và đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cái hay nhất của chèo rối nước là sự điều khiển những con rối cực kỳ khéo léo của các nghệ sĩ và nội dung dí dỏm rất đời thường. Chèo rối nước luôn mang lại niềm vui và tiếng cười cho độc giả.

Múa rối nước: Nét văn hóa nghệ thuật độc đáo những ngày đầu xuân

Nghệ thuật và Âm nhạc

Trải qua hàng nghìn năm, múa rối nước vẫn có thể khiến người ta yêu thích bởi sự khéo léo của các nghệ nhân nơi đây.

Cổ và mới

Nghệ thuật và Âm nhạc

Dân tộc và hiện đại quả là vấn đề thế kỉ, vì giới nhạc bàn luận đã lâu mà vẫn chưa thấu, thử nghiệm cũng nhiều mà vẫn chưa thỏa. Khúc mắc nảy sinh nhiều khi là do dân tộc - hiện đại được hiểu được hành không chỉ như hai vế đối lập của các cặp phạm trù cổ - kim, cũ - mới, mà còn gần như đồng nghĩa với lạc hậu - tiên tiến, cổ hủ - khoa học.

Khổ luyện đằng sau sân khấu múa rối nước Hội An

Nghệ thuật và Âm nhạc

Khi bức màn sân khấu vén lên, những diễn viên múa rối nước bước ra chào khán giả, những tràng pháo tay lại vang lên đầy xúc động. Đằng sau những vở diễn sống động, thú vị, là tài năng, là đam mê, là sự hy sinh vì nghiệp diễn của những nghệ sĩ đang đứng ngâm mình trong nước.

Quách Thị Hồ - Sênh phách giọng sầu gửi bóng mây

Nghệ thuật và Âm nhạc

Quách Thị Hồ - Sênh phách giọng sầu gửi bóng mây Tiếng hát của Quách Thị Hồ đẹp và tráng lệ như một tòa lâu đài nguy nga, lộng lẫy, mà mỗi tiếng luyến láy cao siêu tinh tế của bà là một mảng chạm kỳ khu của một bức cửa võng trong cái tòa lâu đài ấy. Tiếng hát ấy vừa cao sang bác học, vừa mê hoặc ám ảnh, diễn tả ở mức tuyệt đỉnh nhất các ý tứ của các văn nhân thi sĩ gửi gắm trong các bài thơ. Có một thời gian rất dài ca trù không được quan tâm. Có lẽ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với những tàn dư xấu xa của chế độ phong kiến, sinh hoạt cô đầu, hay hát ả đào, vốn đã có tiếng rất xấu từ đầu thế kỷ, cũng bị quét đi, không thương tiếc. Các cô đào, dù hát còn hay, dù còn thanh sắc cũng giấu kỹ phách, các kép hát thì gác đàn lên xà nhà, giấu đi cái hành trạng một thời làm nghề hát xướng của mình để nhập vào cuộc sống mới. Không ai dám hát, không ai dám đàn, không ai dám nhận mình là cô đầu nữa. Con cái các đào kép một thời lững lẫy bỗng đâm ra xa lánh, sợ sệt cha mẹ mình. Tiếng xấu sinh hoạt ả đào trùm lên cả xã hội. Nhắc đến cô đầu người ta sợ. Nhắc đến hát ả đào, người ta nghĩ đến một thú ăn chơi làm cho người ta khuynh gia bại sản, có hại cho phong hoá và luân lý. Người ta cho cô đầu là cái người: “Lấy khách - khách bỏ về Tàu, lấy nhà giàu - nhà giàu hết của”. Mà cũng có chỗ không oan. Với vẻ thanh thoát của vóc dáng của những người không phải chịu cảnh chân lấm tay bùn, các cô lại khéo ăn nói, do được tiếp xúc toàn với văn nhân nho sĩ, nên nhiều người đã bị các cô làm cho mê mẩn. Có người phải bán ruộng, bán nhà; có kẻ phải giấu lương tháng, lừa dối vợ con để lấy tiền đi hát. Nhà hát lại là nơi hấp dẫn nhất trần đời: nào các cô hát hay, nào các cô tiếp rượu khéo, nào các cô đấm bóp ấm êm. Biết bao cảnh đánh ghen tầy trời nơi các ca quán. Biết bao đôi vợ chồng phải ly biệt, tan cửa nát nhà vì cô đầu. Tiếng xấu ấy, trăm năm còn in vết. Các người ca thưở trước đều tìm một nghề khác kiếm sống, giấu biệt cái nghề ca hát của mình đi. Có đào nương phải kiếm một gánh nước chè độ nhật cho đến tận lúc cuối đời. Nhiều đào nương lần hồi kiếm các công việc để độ nhật, và giấu biệt đi cái nghề ca hát của mình, cho dù nó đã từng đem lại ít nhiều vinh quang cho bà trong thời trẻ trung. Có đào nương trở về với công việc đồng áng, cố che lấp đi cái nghề ca hát của mình. Gặp lại các bà để hỏi về ca trù, các bà còn run sợ, các bà không dám nói. Mặc dù thưở trước Tổ đã cho các bà ăn lộc, cho các bà những hào quang, nhưng nay thì các bà dứt khoát dứt ra khỏi cái liên hệ này. Tìm gặp các bà, có cảm giác như họ đang ôm trong mình một khối u lớn. Có bà trả lời giằn dỗi, như hắt nước lạnh vào người đang hỏi chuyện. Lâu dần trong số họ trở nên kiêu ngạo, cao đạo, nào tránh gặp báo chí, nào tránh gặp truyền hình, nào tránh các cuộc giao lưu. Không ai dám đến gần khiến cho người đào nương già nua lại trở nên cô độc, thù ghét xung quanh, khinh ngạo mọi người trong và ngoài nghề. Trong hoàn cảnh ấy, chỉ có một người phụ nữ, người mà nét tài hoa và đa tình còn in trên khuôn mặt đã nhăn nheo, mà nét kiêu sa lừng lẫy chốn ca trường còn trong từng âm thanh giọng nói - vâng chỉ có người ấy là dám nhận mình là một ả đào, như bà đã từng nói là bà dám đeo cái biển trước ngực “Tôi là ả đào”. Bà kể rằng: Hồi trước có mấy ông lãnh đạo văn hóa nói thẳng vào mặt tôi rằng: "Cái nghề ca trù của bà chỉ phục vụ bọn thực dân phong kiến, cái cây đã chết, cho nó chết, lấy đâu hoa mà nở". Lúc đó tôi cười: "Rồi xem, hoa có nở không?".(Báo Lao Động chủ nhật, số 40, ngày 20.10.1991, tr.5). Đấy, thái độ của bà rõ ràng và tự tin như vậy! Vâng, cả cuộc đời của bà lúc nào cũng một niềm thuỷ chung với nghề tổ. Bà được Tổ cho ăn lộc, đem cho bà vinh quang và cả đắng cay nữa. Bà dám sống cho nghề tổ, chịu vinh, chịu nhục vì nghề. Khi bà ba mươi tuổi, đang lừng lẫy chốn ca trường, thi sĩ Trần Huyền Trân viết tặng bà bài thơ Sầu chung. Một bài thơ mà từng chữ, từng lời hiểu bà từ gan ruột. Bà là Quách Thị Hồ nghệ sĩ lớn nhất của ngành ca trù trong thế kỷ XX. Cho đến một hôm, GS Trần Văn Khê, từ Pháp trở về. Ông ghi âm tiếng hát của bà để đem đi giới thiệu với thế giới. Năm 1978, Hội đồng Âm nhạc Quốc tế của UNESCO và Viện Nghiên cứu Quốc tế về Âm nhạc So sánh đã trao bằng danh dự cho bà vì bà có công lao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn nghệ thuật truyền thống có giá trị văn hóa và nghệ thuật cao. Và từ đó tên tuổi của bà cùng tiếng hát ca trù độc đáo của Việt Nam trở nên vang lừng trong bốn biển. Năm 1988, tại Liên hoan quốc tế Âm nhạc truyền thống tại Bình Nhưỡng, có sự tham gia của 29 quốc gia, băng ghi âm tiếng hát của Quách Thị Hồ, đại diện cho Việt Nam được xếp hạng cao nhất. Bà được nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Và cho đến hôm nay, bà là người đầu tiên và duy nhất được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân ngành ca trù. Sau bà, không còn ai được phong Nghệ sĩ Nhân Dân về ca trù nữa. Và bà thật xứng đáng với danh hiệu này. Tiếng hát ca trù độc đáo, lạ lùng và đầy sức hấp dẫn của Quách Thị Hồ đã vang lên, đại diện cho Việt Nam, làm rạng rỡ cho âm nhạc và văn hoá Việt Nam. Sau đó, Đài Tiếng nói Việt Nam mới ghi âm tiếng hát của bà, phát trong các chương trình ca nhạc cổ truyền. Năm 1984, Trung tâm Nghe Nhìn (nay là Hãng Phim Truyền hình) tổ chức làm phim “Nghệ thuật ca trù” (Kịch bản và đạo diễn Ngô Đặng Tuất) tại Lỗ Khê. Đây cũng là dịp tập trung nhiều nhất các danh ca, danh cầm nổi tiếng trong giới ca trù như: Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị Hào, Chu Văn Du, Nguyễn Thế Tuất, Phó Đình Kỳ, Đinh Khắc Ban, Phó Thị Kim Đức, Nguyễn Thị Mùi. Nhà nghiên cứu Ngô Linh Ngọc dẫn chương trình và đọc lời bình cho toàn phim. Năm 1980, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội tổ chức biên soạn cuốn sách Hát Cửa đình Lỗ Khê, được dư luận đánh giá tốt. Nghệ sĩ Quách Thị Hồ tạ thế lúc 3h 45 phút, ngày 4 tháng Giêng năm 2001, tức ngày 10 tháng Chạp năm Canh Thìn. Thọ 92 tuổi. Trong sổ tang tôi đã viết: “Nghệ sĩ Quách Thị Hồ ra đi có mang theo tất cả những gì là cao quý, sang trọng và bác học của nghệ thuật ca trù trong thế kỷ XX”. Nghĩ đến hôm bà mất, càng thấy thương bà, khi mất, không có đất chôn. Con cháu phải mua một mảnh đất mấy mét vuông bên Gia Thuỵ để làm nơi yên nghỉ cho bà. Ba thước đất đã vùi sâu một nghệ sĩ tài hoa, sống đã làm vẻ vang cho ca trù, danh thơm bốn bể, cùng với cả trăm cay nghìn đắng, mà vẫn sáng ngời lòng thuỷ chung với Tổ với nghề. Nay bà khuất nẻo suối vàng, nhưng tiếng hát của bà còn vang mãi, với non sông này, với nghệ thuật này. Nguyễn Xuân Diện

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý - bậc lão làng trong nền âm nhạc Việt Nam

Nghệ thuật và Âm nhạc

Những năm sống trên miền Bắc, tôi chưa có dịp được làm quen với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Mãi đến năm 1976, anh Nguyễn Văn Tý mới chuyển vào Sài Gòn, cùng với tôi công tác trong Viện Nghiên cứu Âm nhạc Việt Nam do Giáo sư nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm Viện trưởng.

QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP CỦA MỸ HỌC CỔ ĐẠI

Nghệ thuật và Âm nhạc

“Chân”, “thiện”, “mỹ” là những giá trị cao quý mà con người luôn mong mỏi đạt tới, trong đó, nội dung cốt lõi của “mỹ” là cái đẹp. “Cái đẹp” tưởng chừng là cái dễ nhận thức nhưng trên thực tế lại khó nắm bắt, diễn tả. Vì vậy, phạm trù cái đẹp luôn gây mâu thuẫn và tranh cãi, lịch sử mỹ học cũng có rất nhiều đáp án cho câu hỏi: “đẹp là gì?”, “thế nào là đẹp?”. Song, trong hành trình tìm hiểu “cái đẹp”, chúng ta không thể không hướng về mỹ học cổ đại với tất cả sự ngưỡng mộ và trân trọng.

Vai trò của sáo trúc trong nghệ thuật chèo

Nghệ thuật và Âm nhạc

Nghệ thuật Chèo là một loại hình nghệ thuật truyền thống tiêu biểu và phát triển mạnh ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Nghệ thuật Chèo được bắt nguồn từ cuộc sống lao động, sinh hoạt của nhân dân ta từ hàng ngàn năm nay và nó đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân qua nhiều thế hệ. Chèo chứa đựng trong nó hàm lượng trí tuệ sáng tạo nghệ thuật mẫu mực, được nhiều lớp người dân sáng tạo nên.

Bộ ba Nhạc huyền ở đình làng Nam Bộ

Nghệ thuật và Âm nhạc

Nhạc huyền (Nhạc treo) là bộ phận âm nhạc chủ yếu sử dụng những nhạc khí đặt trên giá hay treo trên dây, như trống lớn, khánh đá, chuông đồng... Trong số này, có những nhạc khí đứng lẻ loi một mình, như Kiến cổ, Đại cổ (trống lớn), Đặc khánh (khánh lớn), Đặc chung, Bác chung (chuông lớn), cũng có nhạc khí kết hợp với nhau thành từng bộ, như Biên chung (gồm 12, 16 chiếc chuông nhỏ), Biên khánh (12 khánh đá)... Nhạc huyền có lịch sử lâu đời và từng đi vào vị trí quyền uy trong dàn nhạc cung đình.

Người bén duyên Hò khoan Lệ Thủy

Nghệ thuật và Âm nhạc

Vừa từ Quảng Bình ra, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vỹ gọi điện bảo tôi xuống ông ngay "có món này hay lắm". Tưởng là món nhậu gì đó, hóa ra không phải. Ông mở cho xem cuốn băng do Viện Âm nhạc vừa ghi hình về Hò khoan Lệ Thủy do chính các nghệ nhân ở Câu lạc bộ Hò khoan Lệ Thủy trình diễn...

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẢM THỤ NGHỆ THUẬT CHO CÔNG CHÚNG NGHỆ THUẬT

Nghệ thuật và Âm nhạc

Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm phát triển đời sống tinh thần của con người là nâng cao năng lực cảm thụ nghệ thuật của từng cá nhân, làm cho mỗi người có khả năng tiếp nhận được những giá trị xã hội mà nhân loại và dân tộc ta đã sáng tạo trong các loại hình, loại thể nghệ thuật khác nhau.

Mỹ thuật được hiểu đúng và đầy đủ là gì?

Nghệ thuật và Âm nhạc

Mỹ thuật là một danh từ khá quen thuộc với đa số tất cả mọi người. Từ khi còn đi học, các bé đã được làm quen với môn học gọi chung là Mỹ thuật. Đây là môn bao gồm nhiều loại như vẽ, nặn đất sét, tô màu,... Mỹ thuật đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đời thường, làm nên những giá trị nghệ thuật. Chúng ta có thể nghe nhiều người nói từ này nhưng chưa thật sự hiểu đúng về nó. Sự giải thích sau đây sẽ giúp bạn hiểu một cách đầy đủ hơn nhé.

Nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa với xẩm: Bồng bềnh một cõi mơ…

Nghệ thuật và Âm nhạc

Những ai yêu bộ môn nghệ thuật hát xẩm, hẳn không lạ lẫm gì với nữ nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa trong nhóm nghệ sĩ xẩm Hà Thành. Chị chính là cô học trò nhỏ của nghệ nhân Hà Thị Cầu, người đã được bà Cầu khi còn ở dương thế âu yếm nói với những người làm phim tài liệu về xẩm rằng: "Con bé được đấy!".

Mỹ học của Phật giáo

Nghệ thuật và Âm nhạc

Mỹ học là một khái niệm chung, nó chỉ định bộ môn khoa học nghiên cứu những mối quan hệ thẩm mỹ. Do vậy, không có một mỹ học riêng của từng dân tộc, từng cộng đồng xã hội. Nhưng, tùy từng tồn tại, vẫn có thể có những hệ thống tư tưởng thẩm mỹ, những mỹ cảm riêng biệt. Cho nên, chúng ta vẫn có thể chấp nhận khái niệm “hệ thống mỹ học Phật giáo”.

Để học sinh biết cảm thụ mỹ thuật

Nghệ thuật và Âm nhạc

Khoảng 10 năm nay, mỹ thuật được đưa vào giảng dạy trong nhà trường như một môn học rèn luyện cho học sinh tư duy về thẩm mỹ và khả năng cảm nhận nghệ thuật trong cuộc sống.

  Trang trước  1 2 3 4